những hành động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

20/03/2020 8:25:26 SA

quyền sở hữu trí tuệ là một trong những keyword được search nhiều nhất trên google. Chúng tôi sẽ viết bài về những hành động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

những hành động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Luật sư cho em hỏi căn cứ nào để xác minh một hành vi được nhìn nhận là hành vi xâm phạm quyền chiếm hữu trí tuệ? và có cách nào để bảo vệ quyền chiếm hữu trí tuệ khi bị xâm phạm không?

Hỏi: Chào luật sư, em có một câu hỏi mong luật sư trả lời giúp. Theo em được biết thì pháp luật sở hữu trí tuệ điều khoản những hành động như hành động xâm phạm quyền tác giả, hành vi xâm phạm quyền liên quan... Là hành động xâm phạm quyền chiếm hữu trí tuệ. Vậy luật sư cho em hỏi căn cứ nào để xác định một hành động được đánh giá là hành động xâm phạm quyền chiếm hữu trí tuệ? Liệu có cách nào để bảo vệ quyền chiếm hữu trí tuệ khi bị xâm phạm? Em xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin cậy & gửi thắc mắc về Luật Thái An. Với câu hỏi của bạn sau thời gian nghiên cứu chúng tôi xin trả lời như sau:

Xâm phạm quyền chiếm hữu trí tuệ trong giai đoạn bây giờ được thực hiện bằng nhiều phương pháp, âm mưu tinh vi và phức tạp khiến cho việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ gặp mặt không ít gian truân.

Về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ điều khoản tại các Điều 28, Điều 35, Điều 126, Điều 127, Điều 129 & 188 của Luật chiếm hữu trí tuệ Việt Nam thì điều khoản về căn cứ để xác định một hành vi có bị xem là hành động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại các điều nêu trên được ghi nhận tại điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP chi tiết như sau:

“Hành vi bị xem xét bị xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ điều khoản tại các Điều 28, 35, 126, 127, 129 và 188 của Luật sở hữu trí tuệ, khi có đủ những căn cứ sau đây:

1. Đối tượng bị để ý thuộc phạm vi những đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

2. Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị chú ý.

3. Người thực hiện hành vi bị xem xét không hẳn là chủ thể quyền chiếm hữu trí tuệ & Chưa hẳn là người được luật pháp hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo điều khoản tại những Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật sở hữu trí tuệ.

4. hành vi bị để ý xảy ra tại Việt Nam”.

Như vậy khi xác định một hành động có phải là hành động xâm phạm quyền chiếm hữu trí tuệ hay không cần căn cứ đủ trên 4 yếu tố trên. cụ thể là:

Thứ nhất, đối tượng bị chú ý thuộc phạm vi những đối tượng đang được bảo hộ quyền chiếm hữu trí tuệ.

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì: "Đối tượng bị xem xét" là đối tượng bị nghi ngờ và bị để ý nhằm đưa ra tóm lại đó có phải là đối tượng xâm phạm hay là không. Đối tượng đang được bảo hộ được quy định tại Điều 6 của nghị định này & Điều 6 của Luật sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị lưu ý.

nhân tố xâm phạm ở đây được hiểu là nhân tố có mặt khi có hành động xâm phạm quyền chiếm hữu trí tuệ. các nhân tố xâm phạm được điều khoản chi tiết tại nghị định này từ Điều 7 đến Điều 14.

Thứ ba, nhân tố chủ thể.

Chủ thể thực hiện hành động bị để ý không đáp ứng một cách đầy đủ điều kiện pháp luật quy định, họ không phải là chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ, cũng không phỉa là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo điều khoản của Luật chiếm hữu trí tuệ.

Thứ 4, hành động bị lưu ý xảy ra tại Việt Nam.

Nếu hành động này không xảy ra tại Việt Nam thì luật pháp Việt Nam không thể điều chỉnh. Việc này hợp với luật lệ lãnh thổ trong lĩnh vực chiếm hữu trí tuệ trong Tư pháp quốc tế. Bởi nghành nghề sở hữu trí tuệ là một nghành khá phức tạp, đòi hỏi phải được xem xét một cách đúng mực & phù hợp nhất. Việc pháp luật các nước có điều khoản khác nhau trong luận điểm quyền sở hữu trí tuệ chính là đặc điểm mà do đó không thể lưu ý một hành động liên quan đến chiếm hữu trí tuệ xảy ra trên phạm vi lãnh thổ một đất nước bằng pháp luật của tổ quốc khác. hành vi bị xem xét phải xảy ra tại Việt Nam, nếu nó xảy ra tại nước khác thì không được xem là hành động xâm phạm.

Về những biện pháp bảo vệ

pháp luật chiếm hữu trí tuệ quy định tương đối nhiều biện pháp bảo vệ khi bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để chủ thể hoàn toàn có thể hoạt bát khi sử dụng. Bao gồm:

Biện pháp tự bảo vệ: quy định tại điều 198 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung cập nhật năm 2009.

Biện pháp dân sự: điều khoản tại Điều 200, Điều 202 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Biện pháp hành chính: quy định tại điều 211 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung cập nhật năm 2009.

Biện pháp hình sự: quy định tại Điều 212 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, điều 171 Bộ luật hình sự trong bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung cập nhật năm 2009.

Trên đấy là các tư vấn của luật sư về vấn đề của bạn, nếu có gì thắc mắc hãy liên lạc lại với chúng tôi để được giải đáp.

Cá voi sát thủ – hung thần máu lạnh đại dương